Là gì

Debit Và Credit Trong Kế Toán Là Gì ? Debit Note Là Gì

Sau bài nhập môn về Kế toán tài chính, mình thấy rất vui khi bài viết được cả các bạn không phải chuyên ngành TCKT hưởng ứng. Trong bài viết tiếp theo này, mình sẽ cố gắng viết dễ hiểu hơn nữa. Debit Và Credit Trong Kế Toán Là Gì ? Debit Note Là Gì Tuy vậy sẽ vẫn có những chỗ mang tính chuyên ngành 1 chút, các bạn có thể comment những chỗ ấy nhé.

Đang xem: Debit và credit trong kế toán là gì

Debit và credit được hiểu là gì trong kế toán?

Debit và Credit được hiểu là Nợ và Có trong kế toán. Đây là quy ước để ghi chép tính biến động của các tài khoản kế toán, không mang ý nghĩa về kinh tế.

Hay nói cách khác, việc Ghi Nợ không có nghĩa là doanh nghiệp đang Nợ đối tượng nào đó. Và việc Ghi Có cũng không có nghĩa doanh nghiệp đang Có tiền.

Ghi Nợ và ghi Có là công việc khi thực hiện định khoản của kế toán. Đây là công tác ghi chép các phát sinh tăng-giảm của tài khoản.

Định khoản kế toán là gì?

Hôm trước chúng ta đã tìm hiểu các cấu phần của 1 báo cáo tài chính, trong đó 2 phần rất quan trọng đó là Bảng cân đối kế toán (BS) và Báo cáo kết quả kinh doanh (IS). Các bạn còn nhớ BS gồm gì không. Nếu không, mình nhắc lại ở đây nhé:
BS bao gồm Tài sản, Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu. Ta có công thức: Tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu
Hình thành nên các khoản mục cho BS và IS chính là các giao dịch kế toán (Accounting transactions). Giao dịch kế toán phản ánh các hoạt động trong 1 doanh nghiệp, mà có thể chia thành các chu trình
Vậy để phản ánh các hoạt động ấy trong sổ sách kế toán, người ta làm cách nào? Đó chính là việc sử dụng bút toán kép (double entry accounting), một phương pháp ghi chép rất hay được phát minh từ thế kỷ 14. Phương pháp này có thể tóm gọn thành 1 số điểm như sau:
+ Khi hạch toán phải đồng thời ghi Debit 1 (hoặc nhiều) khoản mục và Credit lên 1 (hoặc nhiều) khoản mục
Các bạn đừng dịch nghĩa 2 từ Debit và Credit này nhé (nếu dịch thì sẽ cảm thấy loạn hơn). Hãy hiểu nguyên lý của Debit và Credit như sau:
* Khi Debit khoản mục liên quan tới Chi phí (Expenses), Tài sản (Asset), điều đó phản ánh việc Phát sinh tăng chi phí, tăng tài sản. Ngược lại khi Credit những khoản mục này thì giảmđi.
* Khi Credit khoản mục liên quan tới Doanh thu (Revenue), Nợ phải trả (Liabilities), Nguồn vốn (Capital), điều đó phản ánh việc Phát sinh tăng doanh thu, nợ phải trả, nguồn vốn. Ngược lại khi Debit thì những khoản mục này giảmđi.
Khi đó, doanh thu (revenue) phát sinh là 100tr. Tiền (cash) cũng tăng 100tr do thu được tiền. Ta định khoản (ghi chép) giao dịch này như sau
Để luyện thêm về phần này, các bạn cùng thử tự tìm cho mình mỗi loại dưới đây 1 ví dụ nhé. Mình lấy ví dụ trước cho bài tập nhỏ này như sau:
– Tăng tài sản, tăng công nợ (ví dụ chính là việc mua máy móc mà nợ lại nhà cung cấp). Các bạn tìm thêm 1 ví dụ nữa cho mục này nhé. các mục bên dưới cũng mỗi loại 1 ví dụ
Các bạn cũng thử tìm thêm, hoặc nếu không tìm được thì hãy chứng minh vì sao không có các giao dịch sau nhé:
Bài tập nhỏ nữa: Hãy thử phân loại các mục này (mình đã cố sắp xếp không theo thứ tự) vào 3 mục: Tài sản, Nợ phải trả, và Vốn chủ sở hữu nhé.

Xem thêm: ghế inox tròn xoay

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA KẾ TOÁN (ACCOUNTINGVÀ GHI SỔ (BOOKKEEPING)

Ghi sổ chẳng phải công việc gì thú vị nhưng lại là một phần không thể thiếu của kế toán. Đó là công việc ghi lại tất cả các hoạt động có tính chất kinh tế của một tổ chức (như hàng đã bán, hóa đơn đã thanh toán, vốn đã nhận) dưới dạng các giao dịch riêng lẻ và sẽ được tổng kết định kỳ (hàng năm, hàng quý, thậm chí hàng ngày). Ngoại trừ các doanh nghiệp quá nhỏ, hiện nay các giao dịch này được nhập vào máy tính, nhưng trước đó chúng được ghi lại trong sổ sách, nên được gọi là ghi sổ.

 

Nợ và Có trong kế toán có ý nghĩa gì?

Nhiều bạn học kế toán thắc mắc rằng Nợ và Có trong kế toán có nghĩa là gì? Cũng nhiều bạn trả lời đó là qui ước, cứ vô tư mà chấp nhận đi! Có ai hỏi: Tại sao cái đũa lại gọi là “cái đũa” mà không gọi là “cái muỗng”? Có ai hỏi Tại sao con người lại gọi là “con người” mà không gọi là “con…”?

Cũng đã có nhiều người bàn về hai chữ Nợ và Có trong kế toán. Tuy nhiên nội dung trong [1] theo tôi dễ chấp nhận nhất (logic nhất).

Luca Pacioli (1446–1517) được coi là cha đẻ của kế toán hiện đại kể từ khi ông xuất bản quyển “The Collected Knowledge of Arithmetic, Geometry, Proportion and Proportionality” (tạm dịch là: Tổng hợp kiến thức về số học, hình học, tỷ lệ và tính cân đối”) năm 1494. Trong quyển sách này ông đã nêu lên khái niệm kế toán kép (double-entry accounting) và hai từ nợ, có.

Luca Pacioli tách biệt giữa chủ sở hữu doanh nghiệp và bản thân doanh nghiệp. Doanh nghiệp mới là một thực thể trong thị trường (thực thể tồn tại trong môi trường kinh doanh). Cần lưu ý rằng chủ sở hữu doanh nghiệp là những người bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp, tức là các nhà đầu tư, bao gồm tất cả các cổ đông.

Luca Pacioli dùng từ La-tinh debere (viết tắt là dr) với nghĩa là “nợ” và credre (viết tắt là cr) với nghĩa là “có”. Sau này trong các tài liệu tiếng Anh dùng Debit (nợ) thay cho Debere và Credit (có) thay cho Credre nhưng vẫn viết tắt theo cách cũ là Dr và Cr.

Cũng có cách lý giải khác: DR là “Debit Record” (ghi chép nợ) và  CR là “Credit Record” hay DR viết tắt của “Debitor” (người nợ), còn CR viết tắt của “Creditor” (người cho vay) [2] tuy nhiên cách lý giải này có vẻ hơi vô lý vì không có căn cứ rõ ràng.

Theo [3]:
– Từ Credere có nghĩa là “to entrust”  /in´trʌst/ – giao phó, ủy thác
– Từ Debere có nghĩa là “to owe”  /ou/ – nợ, hàm ơn, có được cái gì nhờ người khác

Một trong các giả thuyết cơ bản của Luca Pacioli về môi trường kinh tế (trong đó doanh nghiệp tồn tại) là một môi trường đóng với ý nghĩa là tiền không tự sinh ra và không tự mất đi. Như vậy khi A bỏ ra một lượng tiền M để đầu tư thì chắc chắn phải có B nào đó nhận lượng tiền M đó, ngược lại, khi B nhận một lượng tiền M thì chắc chắn phải có A nào đó chi ra lượng tiền này. Đây chính là nguồn gốc của khái niệm kế toán kép.

Từ lý luận trên, Luca Pacioli cho rằng:

– Khi A đầu tư (entrust) vào B một lượng tiền M thì: A đang CÓ ở B lượng tiền M và B đang NỢ A lượng tiền tương ứng.

– Hay nói cách khác: B nhận tiền vào thì B đang NỢ, A chi tiền ra thì A đang CÓ.

Tài sản là những gì đang tồn tại trong doanh nghiệp, nguồn vốn là nguồn hình thành nên các tài sản của doanh nghiệp. Nói cách khác, các tài khoản tài sản thể hiện bản thân doanh nghiệp còn các tài khoản nguồn vốn thể hiện các đối tượng bên ngoài (chủ sở hữu, các tổ chức tài chính).

ptketoan

Do đó:

– Khi tài sản tăng, doanh nghiệp nhận tải sản nên doanh nghiệp NỢ các đối tượng bên ngoài (nhà đầu tư, tổ chức tài chính).

– Khi nguồn vốn tăng, các đối tượng bên ngoài tăng lượng đầu tư ở doanh nghiệp nên  ở doanh nghiệp.

Các bạn làm xong bài rồi mình kể câu chuyện ngày xưa mình học môn này lúc đầu như nào nha
Sau bài nhập môn về Kế toán tài chính, mình thấy rất vui khi bài viết được cả các bạn không phải chuyên ngành TCKT hưởng ứng. Trong bài viết tiếp theo này, mình sẽ cố gắng viết dễ hiểu hơn nữa. Tuy vậy sẽ vẫn có những chỗ mang tính chuyên ngành 1 chút, các bạn có thể comment những chỗ ấy nhé.
Hôm trước chúng ta đã tìm hiểu các cấu phần của 1 báo cáo tài chính, trong đó 2 phần rất quan trọng đó là Bảng cân đối kế toán (BS) và Báo cáo kết quả kinh doanh (IS). Các bạn còn nhớ BS gồm gì không. Nếu không, mình nhắc lại ở đây nhé:
BS bao gồm Tài sản, Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu. Ta có công thức: Tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu
Hình thành nên các khoản mục cho BS và IS chính là các giao dịch kế toán (Accounting transactions). Giao dịch kế toán phản ánh các hoạt động trong 1 doanh nghiệp, mà có thể chia thành các chu trình
Vậy để phản ánh các hoạt động ấy trong sổ sách kế toán, người ta làm cách nào? Đó chính là việc sử dụng bút toán kép (double entry accounting), một phương pháp ghi chép rất hay được phát minh từ thế kỷ 14. Phương pháp này có thể tóm gọn thành 1 số điểm như sau:
+ Khi hạch toán phải đồng thời ghi Debit 1 (hoặc nhiều) khoản mục và Credit lên 1 (hoặc nhiều) khoản mục
Các bạn đừng dịch nghĩa 2 từ Debit và Credit này nhé (nếu dịch thì sẽ cảm thấy loạn hơn). Hãy hiểu nguyên lý của Debit và Credit như sau:
* Khi Debit khoản mục liên quan tới Chi phí (Expenses), Tài sản (Asset), điều đó phản ánh việc Phát sinh tăng chi phí, tăng tài sản. Ngược lại khi Credit những khoản mục này thì giảmđi.
* Khi Credit khoản mục liên quan tới Doanh thu (Revenue), Nợ phải trả (Liabilities), Nguồn vốn (Capital), điều đó phản ánh việc Phát sinh tăng doanh thu, nợ phải trả, nguồn vốn. Ngược lại khi Debit thì những khoản mục này giảmđi.

Xem thêm: Nơi Nạp Mực Máy In Quận 3 – Nạp Mực Máy In Tận Nơi Quận 3

Khi đó, doanh thu (revenue) phát sinh là 100tr. Tiền (cash) cũng tăng 100tr do thu được tiền. Ta định khoản (ghi chép) giao dịch này như sau
Để luyện thêm về phần này, các bạn cùng thử tự tìm cho mình mỗi loại dưới đây 1 ví dụ nhé. Mình lấy ví dụ trước cho bài tập nhỏ này như sau:
– Tăng tài sản, tăng công nợ (ví dụ chính là việc mua máy móc mà nợ lại nhà cung cấp). Các bạn tìm thêm 1 ví dụ nữa cho mục này nhé. các mục bên dưới cũng mỗi loại 1 ví dụ
Các bạn cũng thử tìm thêm, hoặc nếu không tìm được thì hãy chứng minh vì sao không có các giao dịch sau nhé:
Bài tập nhỏ nữa: Hãy thử phân loại các mục này (mình đã cố sắp xếp không theo thứ tự) vào 3 mục: Tài sản, Nợ phải trả, và Vốn chủ sở hữu nhé.
Các bạn làm xong bài rồi mình kể câu chuyện ngày xưa mình học môn này lúc đầu như nào nha

52

 

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Là gì

Trả lời

Back to top button