Là gì

Kim Tứ Cục Là Gì ? Giải Thích Về Cục Số

Cục (hay còngọi là cuộc) có nghĩa là cách cục,là cái thế cuộc mà tađang sống – hay nói đúng hơncục chính là cái môisinh mà bản mệnhcủa ta đangngụp lặn trong đó.

Đang xem: Kim tứ cục là gì

a. Hành Cục sinh Mệnh

Ví dụ: Mệnh Thổ, Hỏa LụcCục, Hỏa sinhThổ, đây là người được hoàn cảnh ưu đãi,để gặp may may mắn,để thuận lợi trong cuộc sống.

b. Mệnh Cục tương hòa

Ví dụ: Thổ Mệnh, Thổ ngũCục là người dễhòa mình với hoàn cảnh,với đời sống bên ngoài.

c. Mệnh sinh Cục

Ví dụ: Thổ mệnh, Kimtứ cục: thổ sinh kim,người phải sinhcho môi sinh tức là vất vả, chuyên làmlợi cho thiên hạ.

d. Mệnh khắcCục

Ví dụ: Thổ Mệnh,Thủy nhị Cục,Thổ khắc thủy, cuộcđời gặp nhiềutrở ngại, hay làm hỏng đại sự,là người thành côngtrong nghị lực.

e. Cục khắc Mệnh

Ví dụ: Thổ Mệnh, Mộc tam Cục Mộc Khắc Thổ: đang thương,người hay bị môisinh không thíchhợp với mình,để đạt được sự thành côngđòi hỏi phảitrải qua gian khổ.

2. SỰ TƯƠNG QUAN GIỮACAN VÀ CHI CỦA NĂM SINH

Can là Thiên Can, Chi là Địa Chi –Can Chi kết hợpvới nhau như sự giaohòa của trờiđất, tựa như 1 câygồm 2 phần gốc vàngọn.

a. Can Chi tươnghòa

Ví dụ: Giáp Dần, Mộc, Dần mộc là người sinh đã cónền căn bản vững chãi,đủ khả năng để đạt đượccái mình muốn.

b. Chi sinh Can

Ví dụ: Ất Hợi: Hợithủy sinh Ất mộc do maymắn mà thànhcông chứ thật ra thực lực, khả năngvẫn chưa đạt đượcđến mức độ ấy. Có thể hình dungcuộc đời họlà một chuỗi dài may mắn nối tiếpnhau để có từthành công này đến thành công khác.

c. Can sinh Chi

Ví dụ: Canh Tý,canh kim sinh tý thủylà những ngườiđược trời ưu đãiđể làm việc, bản thân họ vừacó khả năng lại vừagặp may thuận lợinên có thể đạtđược thành công mộtcách dễ dàng.

d. Can khắc Chi

Ví dụ: Canh Dần:canh kim khắc dần mộc, làngười hay gặp nhiềunghịch cảnh có thể làm đổvỡ cả sự nghiệp, ở những mẫu người này cần đòihỏi họ phải có1 lá số với các sao đi đúng bộ thật tốtmới mong nêndanh phận nhưng cũng vẫn trảiqua nhiều nỗithăng trầm.

e. Chi khắc Can

Ví dụ: Ất Dậu: Dậu kim khắc Ất mộc, là những ngườithiếu may mắn,có được thànhcông từ trongkhó khăn, song sựnghiệp hay bịgãy đổ lung tungđể rồi lại xâydựng lại.

Xem thêm: thanh lý máy in epson t60

*

3. SO SÁNH HÀNH CỦA BẢN MỆNH VỚI HÀNHCỦA 12 CUNG SỐ

Ðể biết sự sinh khác giữamình với những người liên hệ,bản mệnh là ta, cung an mệnh là nhà,là cái mà baoquản cho ta, các sao ví như đồ đạc, tiện nghimà ta phải sửdụng, nếu tương sinh hoặcđồng hành, thờitốt mà làm lợi cho ta, nếu bịkhắc thời bất lợi.Nếu bản mệnh tương hòa hoặc tươngsinh với cungbản mệnh, cung an mệnh ở tại Dậu làkim khắc mộc.Thì tìm đến các sao thủ vàchiếu xem có saonào đồng hành với bản mệnh không,nếu lại sinh vàogiờkim xà thiết tỏanữathì xác thực làchết non chẳng sai, đã chết non thìcũng chẳng còngì để bàn về các cung liên hệ nữa.

Cho nên phútử vi mới có câu:

“Ðào Hồng ngộkiếp Không đồng thủ

Xá bàn chi bầnlũ yểu vong.”

Xétlá số:Quí Dậu tháng 5 ngày 30 giờ Sửu –Âm Nữ kim mệnh, Hỏacục, Mệnh lập ở Ngọ. Cung Ngọ làhỏa khắc mệnhkim, lại có Đào, Hồnggặp Không Kiếpnên đã chết từ lúc 3 tuổi.

Sau khi đã sosánh với cung mệnh rồi,thì lần lượtxem xét sự khắc hợp của11 cung kế tiếp.

Ví dụ:người cóMệnh Mộc, cungMệnh ở Dần cũng là hànhMộc, như vậy,phụ mẫu nào ở Mão Mộc là tươnghòa, con ngườigiữ được chữ hiếu và cũng được cha mẹ yêu thương, Phúc Đức ở Thìn Thổ là khắc(mệnh Mộc khắcThổ) là không tìm đượcsự giúp đỡ củahọ hàng và bản thân cũng không tìmthấy sự an ủi, thoải mái đối với họ hàng. Ðiền, Quan ở Tỵ là Hỏa, Mộc sinh Hỏa cho nên sẽ vất vảtrên đường côngdanh, với nhà cửa. Nô ở Mùi,Tài ở Tuất,Bào ở Sửu đều thuộc Thổ cả, ta cứ luận như ở cung Phúc Ðức – nghĩa là phải vất vả vớibạn bè, anhem và tiền bạc vì Mộc khắc Thổ.Ách ở đâu là Kimkhắc Mệnh Mộc có nghĩa là mỗikhi bị bệnh tậthay tai nạn thì khó mà tránh được dễ dàng. Cung Di ở Thân là kim khắc mộc:nghĩa là đứngtrước một đối tượng, người này hay bị rơi vào tư thếlép vế dù rằngcó khi mình hơn họ vềphương diện nàođó. Tử và Thê ở Hợi và Tý thuộc thủy sinhcho mệnh ở Dần,nếu lập gia đình, có con cái, thì cuộc đời người này sẽ thấy thoải mái hơnvà nếp sốngtrong gia đình với vợ con cũng đạt được sự yêuthương thuận hòa.

Phía trên lànguyên tắc luận giải và ví dụ, đối với cáctrường hợp kháccũng làm tương tự, cứ dùng ngũ hànhsinh khắc củamệnh và 12 cung màluận giải, hễkhắc thì không hợp, tương hòa hay sinh thì đượcsự phù trợ, tùytheo cung sinh hay khắc.

4. ĐẶC TÍNH CỦANGŨ HÀNH VÀ VỊ TRÍ MIẾU,HÃM CỦA CÁC SAO

Để xếp hạng cách cục được hướngcho mỗi người,nhất là 14 chính tinh vàcác trung tinh. Hiểu rõ tính chất của mỗi sao,các sao đi nhưthế nào là đúng bộ, có phá lẫn nhau không,các sao Thủvà chiếu mệnh có đồng hành vớibản mệnh không?

Ví dụ:Bộ Nhật Nguyệtcần có ÐàoHồng Xương Khúc, bộ Tử Phù Vũ Tướng cần Tả, Hữu,Tam Hóa, bộSát Phá Tham cầnLục Sát Tinhđắc địa, bộ Cơ Nguyệt ÐồngLương cần TamHóa, Quang Quý, Thai Tọa, phá của các cách, nhưngxin quí đọcgiả lưu ý phần tính chất các sao là một trong những yếu tố quantrọng nhất đểđoán tử vi được chính xác, đồng thời nó cũng là một yếu tốđể tăng sự hứngkhởi cho người xem và người đượcxem tử vi.

Một người có sốdù các sao đã đi đúngbộ nhưng khôngcó chính tinh đồng hành với mệnh thìcũng không phảiđiều tốt lành gì, dù mệnh có chínhtinh hay trungtinh đi đúng bộ, lạicó chính tinhđồng hành làm nòngcốt, nhưng lạigặp phá cách thìcũng xem nhưvất đi mà thôi.

Ví dụ:Tử PhủVũ Tướng HộiTam Hóa, Tả Hữu, nhưng lại gặpcả Không Kiếp,là cách để ngộ hung đồ.Lúc ấy Tả Hữu sẽkết hợp bè đang với Không Kiếp và Quyền,Lộc lúc ấychính là cái mồi để cho lũ hungđồ Không Kiếplàm rắc rối cho mình.

Chỉ khi thuộc rõ tínhchất của từng sao thì mới có thể luậngiải được nhiềuđiều dị biệt trong lá số, mới thậtsự nắm đượccái lý biến hóa vô cùng củatửu vi, tại saocùng một số như vậy mà người này thếnày người kialại thế kia. Vì sao theosách thường thìÐào Hồng Nhật Nguyệt là thi đỗmà nay ngượclại người ấy chẳng đậu, nếu xét cho kỹ thì mới thấy được cái đã phá đi mất tính chất tốt đẹp ấy. Nói tóm lại, khi gặp sao tốt thìtrước khi kếtluận phải xem ngũ hànhđể biết mìnhcó được hưởng hay không?Rồi tiếp tục xemcó bị phá cách không? Gặp hung tinh thì xem có đắc địa không? Tất cả các bàng tinh (sao nhỏ) có nhập bộ không? Có phù trợđắc lực hayhợp với bộ chính tinh củamình không?Có nhiều người đãcho rằng mônbói toán tử vi cần đơn giản hơn, lượt bớt các sao nhỏ đi không cần dùng tới, nói như thế háchẳng phải cácbậc tôn sư ngày xưa lập và theo môn tử vi lạilà chuyện thừa thải sao? Tại sao các cụ không bỏ bớt mà phải chờ đến lượt mình. Sự thật là, nếuthuộc kỹ cáctính chất cả các sao nhỏ mới có thể nhìnthấy sự vi diệu, cái lý thú của tử vi.

Ví dụ: Sao PhượngCác và sao Giải Thần luôn luônđi với nhau, cóngười hỏi cớ sao không bỏbớt đi một saomà lại để cả hai sao, thực ra chính bởi cáilý khi tiểu hạngặp Phượng Các tất có ốmđau nặng, nênGiải Thần luôn phải đikèm để giải đicái hung hãn của Phượng Các. Lại như Thiên Riêu,Thiên Y lúc nàocũng đồng cung vì lấy lý rằng: thầy thuốc luôn luôn phảibiết cả Y, cảDược. Luôn bào chế, nhưng cho dù thế sự ngày nàybiến đổi đãphân ra làm Y, Nha, Dượchỏi về cách dùngthuốc. Chính như tính chấtThiên Y vậy.

Xem thêm: máy in nhỏ gọn cho gia đình

5. VỊ TRÍ CÁC SAO VỚI 12 CUNG

Sau khi đã xem đến ngũhành, đắc tinh miếu, hãm, bộ cáchcác chính tinhhợp nhau, phá cách vàcác sao Phù trợ, điều cần lưu ý là cần lại một lần nữa xem vị trícác sao nằmtrên 12 cung số có đúng vớicác sao nằmtrên 12 cung số,có đúng vớitính chất của nókhông? Tài tinhphải cư Tài Bạch, Phúc Tinhphải cư PhúcÐức, Quyền tinh phải ở Quan lộc, Uy Dũng chỉ tinh nên ở mệnh với nam nhân, còn nữ nhân mà có Uy Dũng tinh thủ chiếu mệnhlà phá cách,cuộc đời sẽ rất cô đơn vất vả,và có nhiềuoan trái dù có nhiều cát tinhphù trợ saotuy đi đúng bộ, đắc địa nhưng nằm nghịch vị trí thìcũng không hềtốt, ví như Phá không nêncư ở Nô Bộc,Thê Thiếp, Tài Tinh là Lộc Tồn, Hỏa Lộc nêntránh xa cungTật Ách, các sao cứu giảicần đóng ở Ách, Phúc tinh nếu đóng ở Phúc Ðức thì lạitốt hơn các cung khác.

6. VỊ TRÍ CUNG MỆNH VỚI THÁI TUẾ, THỬ ĐẾM XEM CUNG MỆNH NẰM Ở ĐÂU VỚI VÒNG THÁI TUẾ

A. Nếu mệnh nằm trong tam hợp tuổi:

Ví dụ: người tuổi Dần có mệnh lập ở Dần, Ngọ hay Tuất tức là vị trí Thái Tuế, Quan Phủ, Bạch Hổ vì sao Thái Tuế an theo năm sinh, sinh năm nào thì Thái Tuế cư ở cung có tên của năm ấy; tức đây là loại người luôn luôn tự gánh vác lấy 1 tinh thần trách nhiệm lớn lao, hay can dự vào chuyện bất bình, có lòng hào hiệp, lấy chuyện gánh việc người làm nghĩa vụ, chính vì vậy mà Phú Ma Thị có câu “Thân cư Thái Tuế dữ nhân qua hợp”, Thân đây chính là Thân Mệnh vậy, các cổ thư khi bàn đến tính chất của Thái Tuế đều xem như một cái gì đó không tốt đẹp lắm; nào là đa chiêu thị phi khẩu thiệt, ít cảm tình, kiêu kỳ lý luận chính vì cái lý sự đời nhiều cảnh trái ngang, mà đã là chính nhân quân tử thì làm sao lại hòa mình với sói lang được, nên phải đứng riêng, ra tay nghĩa hiệp nên hay bị thiên hạ có ác cảm, cái tính chất của Thái tuế như vậy cho nên bao chiều chung quanh luôn luôn có Long Phượng Cái Hổ, là tứ linh phục châu – bởi vậy người Thái Tuế không cần Tam hóa, cũng vẫn phong lưu, vẫn được người đời khi ghét nhưng lại vẫn phải cả nể. Vì ghét đây vẫn chỉ là ghét vì thói thường, vì sự can thiệp của Thái Tuế mà cản trở việc làm mờ ám của họ. Nhưng người Thái Tuế vẫn đứng trên lẽ phải, do đó mà người có Thái Tuế thường hay tự hào, đôi khi kiêu ở ngầm trong chính bản thân họ, trong tâm hay khinh thường đối tượng.

 

Khi mệnh có Thái Tuế, tức đi Phu mẫu Phải ở thế tam hợp với Thiên Không, có nghĩa là từ khi sinh mình ra thì công việc, sự nghiệp của cha mẹ đang trên đà xuống dốc thậm chí là suy sụp.

 

B. Nếu mệnh nằm trong tam hợp lấn tuổi:

 

Ví dụ: Tuổi Dần Ngọ Tuất mà mệnh nằm ở 1 trong 3 cung Hợi Mão Mùi, tức là ở thế lấn và luôn luôn có Thiên Không, vì Thiên Không an ở đằng trước theo chiều thuận (chiều kim đồng hồ), trước Thái tuế 1 cung, ở đây lại chia làm 3 trường hợp:

  • Thiên Không ở tứ chính: Tý, Ngọ, Mão, Dậu, là người khôn ngoan, lấn lướt, luôn luôn muốn bản thân phải hơn người, sắc sảo – nếu tại Mệnh thì đó là tư tưởng nhưng nếu tại Thân thì tỏ ra bằng hành động.
  • Thiên Không ở thế tứ mộ: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Ðây là vị trí Thiên Không hoạt động mãnh liệt nhất, phát tán nhất, gây nhiều đổ vỡ nhất, vì Thiên Không là hành Hỏa sinh cho cung Thổ, tức là loại người hay thích đạp đổ tất cả những gì có đã từ trước để xây dựng lại theo ý của mình, có tính nguy hiểm, tàn ác, nếu có nhiều hung tinh sẽ gây bè kết đảng xúi giục.
  • Thiên Không ở thế tứ sinh: Dần, Thân, Tỵ, Hợi ở đây Thiên Không có Hồng Loan đi kèm, Không là sắc sắc không không, là vạn sự giai không Hồng Loan ngoài các ý nghĩa khác còn có ý nghĩa tương cho của chúa, cửa thiên đường – như ngầm nói lên con người có Thiên Không ở tứ sinh đã ngộ được chữ không ở đời mình, khéo tu thì tránh được nhiễu sự phiền não.

 

Nhưng cho dù ở vị trí nào thì bản chất Thiên Không vẫn là vạn sự giai không, lo toan, khôn ngoan đến đâu thì kết quả sau cùng vẫn sẽ là trắng tay. Chỉ có những chân tu, những người chọn theo cửa không thì mới được thoải mái vì không có thì không mất. Ví như kẻ trộm đi lấy tiền của 1 người túi rỗng thì không có được gì, mà người bị trộm kia thì cũng chẳng có gì để mất, nhưng đáng tiếc thay, trên đời này vòng danh lợi luẩn quẩn mấy ai đã ngộ được chữ “Không” ấy.

 

C. Mệnh ở tam hợp: Tang Môn, Điếu Khách, Tuế Phá

 

Mệnh ở tam hợp: Tang Môn, Điếu Khách, Tuế Phá tức là lấn với cung tuổi 2, hay lùi sau 2 cung. Ðây là loại người rất hay bất mãn, than vãn để đi đến đối lập, hay gặp nghịch cảnh trong cuộc đời để khơi nỗi niềm bất mãn lên cao nhưng một khi gặp được Thiên Mã đồng hành bản mệnh thì lại giúp cho họ có một nghị lực vững chắc để sẵn sàng vượt qua khó khăn cuối cùng tiến đến sự thành công.

 

D. Mệnh ở thế lùi với cung tuổi

 

Tức là mệnh 6 cung sau cung tuổi, ví dụ tuổi Dần Ngọ Tuất có mệnh ở Tỵ Dậu Sửu, với vòng Thái Tuế là: Trực phù, Thiếu âm, Long Ðức là loại người có bản chất hiền từ, hay nhẫn nhịn không hơn thua “Chó sủa mặc chó, đường ta ta cứ đi” nhưng hành động lại vụng về, là người chuyên đào giếng cho thiên hạ uống nước.

 

Nếu mệnh ở thế lùi cung tuổi thì Phu mẫu lại thế Thái Tuế và có Long Phượng Cái Hổ, như thế là từ khi sinh ra mình, cha mẹ sẽ ăn nên làm ra, dễ thăng tiến trong con đường sự nghiệp.

 

Xin kính cẩn tri ơn đến cụ Thiên Lương, cụ đã mở ra, đã chứng minh, đã xây dựng thành công tử vi là cả một nguyên lý học, dạy con người ở đời phải sống thế nào cho được thoải mái, chứ không phải chỉ thu hẹp tử vi như một môn bói toán, với những định luật bắt buộc có tính cách cố định, như những ai kia hằng quan niệm. Những phổ biến việc khai triển vòng Thái Tuế và các kinh nghiệm có tính cách cố định, như những ai kia hằng quan niệm.

 

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Là gì

Trả lời

Back to top button