Là gì

quản lý lớp học là gì

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (544.1 KB, 91 trang )

Đang xem: Quản lý lớp học là gì

vấn đề cơ bản như: Quản lý lớp học, tổ chức, quản lý hoạt động giáo dục

ngoài giờ lên lớp và công tác của giáo viên chủ nhiệm <11>.

Chương trình “Huấn luyện kỹ năng quản lý lớp học hiệu quả” của

trung tâm giáo dục Compass Education bao gồm các chủ đề như nâng cao kĩ

năng xử lý các tình huống giảng dạy, cách xây dựng mối quan hệ với học

sinh trong môi trường tích cực <13>.

Đề tài “Phong cách quản lý của giáo viên chủ nhiệm lớp” của tác giả

Hà Thị Thu Trang in trên tạp chí Quản lý Giáo dục số 15, 2010 viết về các

phong cách quản lý và việc ứng dụng các phong cách đó trong quản lý lớp

học <9> và một số công trình khác.

Tuy nhiên, trong số các đề tài đã nghiên cứu chưa có đề tài nào nghiên

cứu về thực trạng quản lý lớp học của giáo viên chủ nhiệm theo mô hình

trường học mới ở các trường Tiểu học huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Quản lý

Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến

khách thể quản lý trong tổ chức, làm cho tổ chức đó vận động và đạt được

mục tiêu của tổ chức <5>.

Quản lý: theo từ điển Tiếng Việt thông dụng là tổ chức, điều khiển hoạt

động của một đơn vị, cơ quan <15>.

F.W Taylor cho rằng: quản lý là biết chính xác điều người khác làm và

sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất <9>.

1.2.2. Quản lý lớp học

Quản lí lớp học là chức năng của giáo viên nhằm hướng dẫn và duy trì

học sinh gắn bó với nhiệm vụ học tập, gồm thời gian, không gian, chương

trình hoạt động, những quy tắc, hệ thống trách nhiệm, quan hệ, đánh giá và

công nhận… Quản lí lớp tốt được thể hiện qua mức độ hợp tác giữa học sinh

với học sinh, giữa học sinh với giáo viên <12>.

5

Nhiều nhà nghiên cứu khoa học giáo dục đã đưa ra khái niệm về quản

lý lớp học dưới các góc độ khác nhau. Nhìn chung các nhà giáo dục đều có

chung một quan điểm cho rằng: “Quản lý lớp học là hành động theo dõi và

điều chỉnh không khí lớp học của giáo viên nhằm hỗ trợ tốt cho việc học tập

của học sinh; giảm thiểu các hành vi của học sinh có ảnh hưởng đến công

việc giảng dạy và học tập của các học sinh khác; và sử dụng có hiệu quả thời

gian giảng dạy” <10>.

1.2.3. Giáo viên

Điều 70, Luật Giáo dục 2005 quy định giáo viên là những người làm

nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, các cơ sở giáo dục; có phẩm

chất đạo đức tư tưởng tốt; đạt trình độ chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ; đủ

sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp và phải có lí lịch rõ ràng . Cũng theo quy

định ở điều 77, Luật Giáo dục 2005 thì trình độ chuẩn được đào tạo của giáo

viên Tiểu học phải tốt nghiệp Trung cấp sư phạm trở lên <3>.

1.2.4. Giáo viên chủ nhiệm

Giáo viên chủ nhiệm là người đại diện hiệu trưởng quản lý giáo dục

toàn diện học sinh qua việc thiết kế, tổ chức thực hiện giáo dục toàn diện

trong một lớp học <8>.

Quản lý toàn diện một lớp học không chỉ là quản lý nhân sự như: số

lượng, giới tính, tuổi tác, hoàn cảnh gia đình, học lực của học sinh,… mà điều

quan trọng là đưa ra dự báo, có kế hoạch giáo dục phù hợp với thực trạng để

dẫn dắt học sinh thực hiện kế hoạch đó, khai thác hết những điều kiện khách

quan, chủ quan trong và ngoài nhà trường để đạt được mục tiêu giáo dục.

1.2.5. Trường Tiểu học mới

Mô hình trường học mới ở cấp Tiểu học là một phương thức sư phạm

mang tính chuyển đổi nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục ở các

trường <7>.

Phương thức sư phạm của mô hình trường học mới bao gồm các

phương pháp giảng dạy và nội dung giáo dục được dựa trên quan điểm lấy

6

hoạt động của học sinh làm trung tâm trong quá trình dạy học. Vì vậy, các

thành tố về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức lớp học,

đánh giá học sinh của mô hình trường học mới sẽ chi phối không chỉ quá

trình dạy học mà cả quá trình giáo dục và chương trình giáo dục theo

hướng hiện đại <7>.

1.2.6. Quản lý lớp học của giáo viên chủ nhiệm

Đề tài sử dụng quan điểm của tác giả Bùi Minh Hiền trong cuốn Quản

lý Giáo dục <5> và quan điểm quản lý lớp học hiệu quả của các tác giả Robert

J. Marzano, Jana S. Marzano và Debra J. Pickering <12> để xây dựng khái

niệm quản lý lớp học của giáo viên chủ nhiệm như sau:

Quản lý lớp học của giáo viên chủ nhiệm được hiểu là sự tác động có

định hướng, có chủ đích từ phía giáo viên chủ nhiệm đến học sinh trong

lớp nhằm hỗ trợ tốt cho việc học tập của học sinh; giảm thiểu các hành vi

của học sinh có ảnh hưởng đến công việc giảng dạy và học tập của các học

sinh khác; và sử dụng có hiệu quả thời gian giảng dạy.

1.3. Hoạt động quản lý lớp học của giáo viên chủ nhiệm ở

trường Tiểu học

1.3.1. Trường Tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân

Vị trí của trường Tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân được quy

định trong điều 2 của điều lệ trường Tiểu học: “ Trường Tiểu học là cơ sở

giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân, có

tài khoản và con dấu riêng” <1>.

Theo UNESCO: Tiểu học là cấp đào tạo chính để cung cấp nền giáo

dục cơ bản mà mọi trẻ em có quyền được hưởng <6>.

Do đó có thể khẳng định: Trường Tiểu học là cơ sở giáo dục cấp Tiểu

học, cấp học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, đặt cơ sở ban đầu cho

sự hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người, đặt nền móng

vững chắc cho giáo dục phổ thông và hệ thống giáo dục quốc dân.

7

1.3.2 Đặc điểm của học sinh Tiểu học

Theo tác giả Bùi Văn Huệ <6>, học sinh Tiểu học có những đặc

điểm cơ bản:

1.3.2.1. Đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh Tiểu học.

Trẻ em lứa tuổi học sinh Tiểu học thực hiện bước chuyển từ hoạt động

vui chơi là hoạt động chủ đạo sang học tập là hoạt động chủ đạo. Cùng với

cuộc sống nhà trường, hoạt động học tập đem đến cho trẻ nhiều điều mà trước

đây trẻ chưa bao giờ có được hoặc không thể tiếp cận được. Từ đó, cùng với

sự phát triển về thể chất và dựa trên những thành tựu phát triển tâm lí đã đạt

được của giai đoạn trước, trẻ sẽ tạo lập nên những cái mới trong đời sống tâm

lí của mình, mà trước hết là tính chủ định, kĩ năng làm việc trí óc, sự phản

tỉnh. Ngoài ra, nhà trường và hoạt động học tập cũng đặt ra cho trẻ những đòi

hỏi mới của cuộc sống. Trẻ không chỉ phải tự lập lấy vị trí của mình trong

môi trường “ trung lập về tình cảm”, mà còn phải thích ứng với những bó

buộc không tránh khỏi và chấp nhận việc một người lớn ngoài gia đình (thầy,

cô giáo) sẽ đóng vai trò hàng đầu trong cuộc sống của trẻ. Trẻ chẳng những

phải ý thức và có thái độ trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ của

mình, đặc biệt là nhiệm vụ học tập và biết điều khiển hành vi của mình một

cách có chủ định, đồng thời phải có khả năng thiết lập, vận hành cùng một lúc

các mối quan hệ với các đối tượng khác nhau và mang các tính chất khác

nhau. Trước những thách thức này, trẻ dù muốn hay không cũng phải lĩnh hội

các cách thức, phương thức phức tạp hơn của hành vi và hoạt động để thỏa

mãn những yêu cầu và đòi hỏi của cuộc sống nhà trường và nhờ vậy “đẩy”

được sự phát triển của mình lên một mức cao hơn.

Tuổi Tiểu học là tuổi của sự phát triển hồn nhiên bằng phương thức

lĩnh hội. Cùng với việc lĩnh hội, tiếp thu một hệ thống tri thức về các môn

học, trẻ em học cách học, học kĩ năng sống trong môi trường trường học và

môi trường xã hội. Cùng với sự ảnh hưởng lớn của môi trường giáo dục gia

đình và quan hệ bạn bè cùng tuổi, cùng lớp và trường học, học sinh Tiểu

8

học lĩnh hội các chuẩn mực quy tắc đạo đức của hành vi. Sự lĩnh hội trên

tạo ra những biến đổi cơ bản trong sự phát triển tâm lí của học sinh tiểu

học. Chúng không chỉ đảm bảo cho các em thích ứng với cuộc sống nhà

trường và hoạt động học, mà còn chuẩn bị cho các em những bước ngoặt

quan trọng trong cuộc sống ở tuổi thiếu niên. Chức năng trên được thực

hiện thắng lợi nhờ các đặc điểm đặc trưng của lứa tuổi này – sự tuân thủ

tuyệt đối vào những người có uy tín với các em (đặc biệt là thầy, cô giáo),

sự mẫn cảm, sự lưu tâm, đặc biệt là thái độ vui chơi ngây thơ đối với các

đối tượng mà các em được tiếp xúc.

1.3.2.2. Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống

Về hoạt động của học sinh Tiểu học. Hoạt động chủ đạo của các em

trong giai đoạn này là hoạt động học tập. Tuy nhiên, song song với hoạt động

học tập ở các em còn diễn ra các hoạt động khác như: Hoạt động vui chơi: trẻ

thay đổi đối tượng vui chơi từ chơi với đồ vật sang các trò chơi vận động;

Hoạt động lao động: trẻ bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bản thân và gia

đình như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa,… Ngoài ra, trẻ còn còn tham

gia lao động tập thể ở trường lớp như trực nhật, trồng cây, trồng hoa,…; Hoạt

động xã hội: các em đã bắt đầu tham gia vào các phong trào của trường, của

lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong,…

Về môi trường sống. Trong gia đình: các em luôn cố gắng là một

thành viên tích cực, có thể tham gia các công việc trong gia đình. Điều này

được thể hiện rõ nhất trong các gia đình neo đơn, hoàn cảnh, các vùng kinh

tế đặc biệt khó khăn,…các em phải tham gia lao động sản xuất cùng gia đình

từ rất nhỏ. Trong nhà trường: do nội dung, tích chất, mục đích của các môn

học đều thay đổi so với bậc mầm non đã kéo theo sự thay đổi ở các em về

phương pháp, hình thức, thái độ học tập. Các em đã bắt đầu tập trung chú ý

và có ý thức học tập tốt. Ngoài xã hội: các em đã tham gia vào một số các

hoạt động xã hội mang tính tập thể (đôi khi tham gia tích cực hơn cả trong

9

gia đình). Đặc biệt là các em muốn thừa nhận mình là người lớn, muốn được

nhiều người biết đến mình.

1.3.2.3. Sự phát triển của quá trình nhận thức

Nhận thức cảm tính. Các cơ quan cảm giác: Thị giác, thính giác, khứu

giác, vị giác, xúc giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện.

Xem thêm: tuổi tân hơi 1971 treo bảng hiệu ngày nào tốt

Xem thêm: in ấn thiết kế bao bì

Tri

giác: Tri giác của học sinh Tiểu học mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và

mang tính không ổn định: ở đầu tuổi Tiểu học tri giác thường gắn với hành

động trực quan, đến cuối tuổi Tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ

thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp hẫn, tri giác của

trẻ đã mang tính mục đích, có phương hướng rõ ràng. Tri giác có chủ định (trẻ

biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ

dễ đến khó,…)

Nhận thức lý tính. Tư duy: Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và

chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động. Các phẩm chất tư duy chuyển

dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát. Khả năng khái quát hóa

phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận. Tuy

nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học

sinh Tiểu học. Tưởng tượng: Tưởng tượng của học sinh Tiểu học đã phát triển

phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh

nghiệm ngày càng dầy dạn. Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang

một số đặc điểm nổi bật: Ở đầu tuổi Tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn

đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi. Ở cuối tuổi Tiểu học, tưởng tượng tái

tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình

ảnh mới. Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi Tiểu

học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh,…. Đặc biệt,

tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc

cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung

động tình cảm của các em.

10

1.3.2.4. Sự phát triển ngôn ngữ của học sinh Tiểu học

Hầu hết học sinh Tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo. Khi trẻ vào lớp

1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết. Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo

và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm. Nhờ có ngôn ngữ

phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh

và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau.

1.3.2.5. Chú ý của học sinh Tiểu học

Ở đầu tuổi Tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểm

soát, điều khiển chú ý còn hạn chế. Ở giai đoạn này chú không chủ định

chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định. Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến

những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều

tranh ảnh,trò chơi hoặc có cô giáo xinh đẹp, dịu dàng,…Sự tập trung chú ý của

trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân

tán trong quá trình học tập.

Ở cuối tuổi Tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú

ý của mình. Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự

nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công

thức toán hay một bài hát dài,…Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện

giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho

phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng

thời gian quy định.

1.3.2.6. Sự phát triển nhân cách của học sinh Tiểu học

Nét tính cách của trẻ đang dần được hình thành, đặc biệt trong môi

trường nhà trường còn mới lạ, trẻ có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi,

mạnh dạn…Sau 5 năm học, “tính cách học đường” mới dần ổn định và bền

vững ở trẻ.

Nhìn chung việc hình thành nhân cách của học sinh Tiểu học mang

những đặc điểm cơ bản sau: Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh

thể và hồn nhiên, trong quá trình phát triển trẻ luôn bộc lộ những nhận thức,

11

tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và

ngay thẳng; nhân cách của các em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng

lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động

thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển; và đặc biệt nhân cách của các em còn

mang tính đang hình thành, việc hình thành nhân cách không thể diễn ra một

sớm một chiều, với học sinh tiểu học còn đang trong quá trình phát triển toàn

diện về mọi mặt vì thế mà nhân cách của các em sẽ được hoàn thiện dần cùng

với tiến trình phát triển của mình.

Những đặc điểm về tâm lý lứa tuổi, môi trường sống, sự phát triển ngôn

ngữ, sự phát triển của quá trình nhận thức, sự phát triển ngôn ngữ chú ý và sự

phát triển nhân cách của học sinh nêu trên là một trong những cơ sở quan

trọng để giáo viên đưa ra cách thức và biện pháp quản lý lớp học phù hợp.

1.3.3. Vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong công tác quản lý lớp học

ở trường Tiểu học

Bên cạnh biện pháp giảng dạy và cách áp dụng các biện pháp, cách

thiết kế chương trình giảng dạy thì quản lý lớp học cũng đóng vai trò quan

trọng trong việc quyết định chất lượng giáo dục học sinh. Trong nhà trường

Tiểu học, điều này lại càng được khẳng định rõ ràng khi việc quản lý các hoạt

động chủ yếu do giáo viên điều khiển và hướng dẫn học sinh thực hiện.

Để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy; tiến hành và quản lý các hoạt động

cũng như việc đánh giá kết quả học tập của học sinh, thu hút học sinh tham

gia vào quá trình học tập và tự giác thực hiện các nhiệm vụ, tạo cơ hội làm

cho bài học trở nên thú vị với học sinh; giáo viên cần tạo ra một môi trường

tự nhiên, tâm lí – xã hội thuận lợi cho học sinh, làm cho học sinh làm việc

thoải mái, tích cực và hiệu quả ở trong lớp…

Người giáo viên quản lý lớp học tốt là ở trong lớp đó tỉ lệ học sinh cam

kết học tập cao, số học sinh bị hạnh kiểm kém giảm và thời gian giảng

dạy/học tập được sử dụng hiệu quả.

12

1.4. Hoạt động quản lý lớp học của giáo viên chủ nhiệm theo mô

hình trường học mới

1.4.1. Giới thiệu mô hình trường học mới(VNEN)

Mô hình trường học mới xuất phát từ đất nước Côlômbia (EN), được

hình thành từ những năm 70 – 80 của thế kỉ XX. Lúc đầu, các tổ chức như:

Ngân hàng thế giới, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp

quốc, Quỹ Nhi đồng Liên hợq quốc,…giúp đỡ nước Cộng hòa Côlômbia bằng

cách thông qua viện trợ kinh phí và đưa chuyên gia quốc tế từ các nước có

nền kinh tế phát triển như: Mĩ, Anh, Canađa, Ôxtrâylia, Tây Ban nha,…đồng

thời chuyển giao thành tựu giáo dục hiện đại cho nước này để hoàn thành mục

tiêu phổ cập giáo dục quốc gia. Về sau, các địa phương, các nhà trường đẫ

biết tổng kết, đánh giá các bài học thực tiễn, xây dựng được mô hình nhà

trường mới có tầm ảnh hưởng rộng rãi tới giáo dục các nước vùng Caribe và

hầu hết các nước châu Mĩ La tinh <7>. Mô hình EN dựa trên 5 nguyên tắc:

(1) Lấy học sinh làm trung tâm.

(2) Nội dung học gắn bó chặt chẽ với đời sống hằng ngày của học sinh.

(3) “Xếp lớp linh hoạt”: Học sinh được lên lớp trên nếu giáo viên

đánh giá đạt được các mục tiêu giáo dục tối thiểu.

(4) Phụ huynh và cộng đồng phối hợp chặt chẽ với giáo viên để giúp

đỡ học sinh một cách thiết thực trong học tập; tham gia giám sát việc học của

con em mình.

(5) Góp phần hình thành nhân cách giá trị dân chủ, ý thức tập thể theo

xu hướng thời đại cho học sinh.

Các nhà lãnh đạo giáo dục Việt Nam trên tinh thần cầu thị đã quan

tâm đến mô hình EN, chỉ đạo cho các chuyên gia hoạt động thực tiễn ở cấp

Tiểu học hiện thực hóa mô hình này vào Việt Nam. Tuy nhiên, giáo dục Việt

Nam không phát triển theo cách nhập khẩu nguyên xi một mô hình trường

học từ nước ngoài, nhưng căn cứ vào tình hình thực tiễn, tính đặc thù, riêng

biệt của giáo dục nước ta để có cách áp dụng phù hợp.

13

Điểm nổi bật của mô hình này mà Việt Nam triển khai áp dụng là đổi

mới về các hoạt động sư phạm, một trong những hoạt động đó là đổi mới về

cách thức tổ chức lớp học. Theo mô hình của trường học mới, quản lí lớp học

là “Hội đồng tự quản học sinh”, các “ban” trong lớp, do học sinh tự nguyện

xung phong và được các bạn tín nhiệm. Sự thành lập cũng như hiệu quả hoạt

động của “Hội đồng tự quản học sinh”, các “ban” rất cần sự tư vấn, khích lệ,

giám sát của giáo viên, phụ huynh, sự tích cực, trách nhiệm của học sinh.

“Hội đồng tự quản học sinh” là một biện pháp giúp học sinh được phát huy

quyền làm chủ quá trình học tập, giáo dục. Học sinh có điều kiện hiểu rõ

quyền và trách nhiệm trong môi trường giáo dục, được rèn các kĩ năng lãnh

đạo, kĩ năng tham gia, hợp tác trong các hoạt động <7>.

1.4.2. Đặc điểm mô hình VNEN

Trong cuốn “Tổ chức lớp học theo mô hình trường học mới tại Việt

Nam” <4>, tác giả đã chỉ ra mô hình VNEN được đặc trung bởi những đặc

điểm cơ bản sau:

1.4.2.1. Hoạt động giáo dục

Mục tiêu tổng thể của Mô hình VNEN là phát triển con người: Dạy chữ

– Dạy người. Mô hình VNEN hướng tới chuyển các hoạt động giáo dục trong

nhà trường thành các hoạt động Tự giáo dục cho học sinh.

Mọi hoạt động giáo dục trong nhà trường đều Vì lợi ích của học sinh,

Của học sinh và Do học sinh thực hiện. Đặc trưng của Mô hình trường học

mới là “tự”

Học sinh: Tự giác, tự quản; tự học, tự đánh giá; tự tin, tự trọng.

Giáo viên: Tự chủ; tự bồi dưỡng.

Nhà trường: Tự nguyện.

Mô hình VNEN có các tài liệu Hướng dẫn các hoạt động giáo dục: Tổ

chức dạy học; Tổ chức các hoạt động giáo dục Đạo đức, Thể chất, Nghệ thuật

và Kĩ năng sống cho học sinh.

14

1.4.2.2. Hoạt động dạy học

Đổi mới căn bản của Mô hình trường học mới là chuyển:

Hoạt động Dạy của giáo viên thành hoạt động Học của học sinh;

Hoạt động Quy mô Lớp thành hoạt động ở Quy mô Nhóm;

Học sinh từ làm việc với giáo viên thành làm việc với sách, có sự tương

tác với bạn (với giáo viên khi cần thiết).

Nhóm học tập là một thành tố đặc trưng, quan trọng của mô hình

trường học mới.

Có thể nói, mọi hoạt động của học sinh diễn ra ở nhóm học tập. Học

sinh chủ yếu làm việc với nhóm; có thể làm việc với giáo viên, làm việc

chung cả lớp chỉ khi cần thiết.

Việc phân nhóm do giáo viên thực hiện trên cơ sở đảm bảo sự hợp lí về

sức học, về khả năng giao tiếp, sự hợp tác giữa các thành viên và điều hành

của nhóm trưởng để đảm bảo tương đối đồng đều giữa các nhóm.

Nhóm trưởng của nhóm học tập là người điều hành, giám sát hoạt động

học của mỗi thành viên trong nhóm. Nhóm trưởng là người hỗ trợ tích cực

giáo viên trong việc tổ chức, điều hành các hoạt động và báo cáo với giáo

viên kết quả học tập hay những vướng mắc trong học tập của nhóm cần hỗ

trợ. Một nhóm trưởng tốt là phải tạo cơ hội để mọi thành viên tự giác trong tự

học, tích cực tham gia các hoạt động nhóm. Đối với các bạn nhút nhát thiếu tự

tin, cần được nói nhiều, trao đổi nhiều, thể hiện nhiều trong hoạt động nhóm.

Không để tình trạng một số thành viên khá làm thay, làm hộ các thành viên

khác trong nhóm.

Trước tiên, giáo viên chọn những học sinh khá, giỏi, có khả năng điều

hành làm nhóm trưởng, bồi dưỡng năng lực điều hành cho các em. Giáo viên

hướng dẫn để các nhóm trưởng có kĩ năng điều hành nhóm, hiểu các bước của

quá trình học tập, biết tổ chức để mọi thành viên trong nhóm đều tích cực, tự

giác thực hiện các hoạt động học. Các học sinh yếu cần được quan tâm nhiều

15

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Là gì

Trả lời

Back to top button